Gian nan "cõng chữ" qua cổng trời
Tôi vẫn nghe người ta gọi những thầy cô giáo miền xuôi bước qua cổng trời Mường Lát để mang chữ đến với học trò là những người hùng nhưng có lẽ chỉ đến khi bước chân lên mảnh đất ấy tôi mới hiểu vì sao họ xứng đáng được gọi như thế. Có những thầy cô đã cắm bản 10 năm, 20 năm, đi khắp những bản khó khăn nhất của Mường Lát, nhiều lần suýt bỏ mạng sống, chôn vùi cả tuổi thanh xuân chỉ để gieo chữ ở những nơi "thâm sơn cùng cốc"…
Nghị lực của “người lính” không mang quân hàm
Có dịp lên bản Suối Tung vào một dịp cuối năm, tôi được gặp hai giáo viên ở miền xuôi lên đây cắm bản. Hai thầy cô giáo, một người đã gắn bó hơn 20 năm và một người có thâm niên hơn 10 năm công tác ở xứ sở đại ngàn này.
Hơn 20 năm qua, thầy Đỗ Văn Nhất (ở huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) là giáo viên Trường Tiểu học Trung Lý 1 (huyện Mường Lát, Thanh Hóa) vẫn chưa quên được ngày đầu tiên nhận nhiệm vụ lên Mường Lát để mang chữ đến với học trò.

Đường vào bản Suối Tung.
Đó là vào năm 2001, thời điểm đó, những vùng khó khăn nhất của Mường Lát như Pa Púa, Tà Cóm, Cá Ráng, Sài Khao, Ón… còn thiếu giáo viên trầm trọng. Những năm đầu, thầy Nhất đã tình nguyện xung phong đi vùng xa nhất, khó khăn nhất. Điểm trường đầu tiên thầy đến là Pa Púa. Ngày đó, Pa Púa vẫn không có đường lên, từ trung tâm của xã Trung Lý, thầy Nhất phải đi bộ một ngày trời mới đến được chân núi Pa Púa.
“Thực ra gọi là đường cho sang nhưng làm gì có đường, là những con suối, là những dốc dựng đứng đá lởm chởm. Chúng tôi đi một đoàn mấy người lên nhận công tác, thầy giáo thì dắt tay cô giáo, có những đoạn suối nước dâng lên ngực, chỉ cần sơ suất trượt chân là cả người lẫn đồ trôi theo dòng suối luôn.
Đi từ trung tâm xã từ lúc trời còn chưa sáng rõ nhưng mãi đến 7h tối chúng tôi mới đến chân núi Pa Púa. Đường từ trung tâm xã vào đến chân núi đã khó đi. Vượt từ chân núi lên đến đỉnh lại là cả một kỳ tích. Chúng tôi phải túm cây theo kiểu leo dây để đu lên. Khoảng nửa đêm thì lên đến nơi, nghĩ lại quãng đường đã vượt qua vẫn không hết rùng mình” - thầy Nhất nhớ lại.

Do không có phòng học, thầy Nhất cùng lúc phải dạy ghép hai lớp.
Sau này, cứ vài năm thầy Nhất lại được luân chuyển đi bản khó khác, ngay cả bản Tà Cóm, một bản xa nhất của xã, với quãng đường hơn 54km đường rừng, thầy Nhất cũng đã đặt chân tới. Mỗi bản có những khó khăn không giống nhau nhưng nói về cung đường để đến được với học trò thì gian nan, khốn khổ như nhau. Có những lúc tưởng như phải bỏ cả mạng sống…thầy vẫn không quản để mang chữ đến với học trò.
Còn với cô giáo Trần Thị Ánh (ở Nga Sơn, Thanh Hóa), giáo viên trường Mầm non Trung Lý thì hơn 10 năm công tác, cô đã trải qua hết mọi khó khăn gian khổ nơi này. Cô bảo, khổ mãi rồi thành quen. Lần đầu tiên vượt qua cánh cổng trời Mường Lát, cô vừa đi vừa khóc. Tưởng rằng không thể trụ được ở trên này, nhưng rồi, nhìn ánh mắt thơ ngây của bọn trẻ lại níu chân cô ở lại.
Dù là phụ nữ thế nhưng cô cũng không khác gì những thầy giáo, cũng trèo đèo, lội suối, cũng đi gần hết các bản khó của xã Trung Lý. Ngặt nỗi, cấp mầm non không có giáo viên nam nên những người như cô Ánh dù đường có khó đến mấy, có xa đến bao nhiêu cũng vẫn phải đi.

Cô Ánh cùng học trò trong bản Suối Tung.
“Lần đầu tiên khi lên nhận công tác, được phân nơi ở của mình, tôi đã không dám tin đó là nơi ở. Không phải là nhà, cũng không được gọi là phòng, nó là một túp lều bằng nứa, xung quanh quây những miếng bạt rách che những lỗ thủng, cửa không có then cài, chỉ có thể khép hờ rồi dùng thanh nứa chống.
Rồi những năm sau đó, lại chuyển đến một bản khác, có những nơi mình dạy phải đi bộ cả ngày trời mới ra được trung tâm xã. Mỗi lần đến bản mới là ngã trầy chẹo chân không biết bao nhiêu lần vì không quen đường… Đã lường trước những khó khăn thế nhưng khi tận mắt đi và chứng kiến mới thấy nghị lực bị lung lay” - cô giáo Ánh tâm sự.
Hầu hết các thầy cô cắm bản đều phải tự xoay xở đồ ăn thức uống. Gạo thì có thể mua nhiều ở trung tâm xã rồi ăn cả năm còn thức ăn thì lại phải vào rừng bắt sâu măng hay xuống suối bắt cá.
Và cũng hầu hết các bản cũng đều có hàng loạt không như không điện, không nước sạch, không sóng điện thoại, không đường… Cứ tối đến, cả bản tối bưng như mực. Bởi thế, làm sao để níu giữ giáo viên miền xuôi lên công tác mà còn níu cả hàng chục năm thì quả là phải có tình yêu biết bao với nghề mới có thể khiến họ quên đi khó khăn, gian khổ mà ở lại.
Điều đáng nói là cả với thầy Nhất và cô Ánh, mấy năm đầu lên đây công tác đều chỉ là giáo viên dạy hợp đồng, một tháng chỉ được mấy trăm nghìn tiền lương. Thế nhưng, vì tình yêu thương học trò mà thầy cô tình nguyện ở lại cho đến giờ.
Hơn 10 năm cắm bản gieo chữ, cô Ánh may mắn kết duyên với người chồng miền xuôi lên đây làm bộ đội, còn với thầy Nhất thì người vợ vẫn ở quê nhà. Hơn hai chục năm thầy công tác, chỉ mới duy nhất 1 lần được vợ lên thăm. Còn bình thường, cứ mỗi năm thầy được về với vợ con 2 lần đó là vào dịp hè và Tết.
“Mấy chục năm công tác, vợ vẫn đều đặn viết thư lên cho mình. Những năm trước, thư vợ gửi 2 tháng mới đến được tay, khi đến tay mình thì lá thư cũng nhàu mất rồi vì cứ gửi qua tay người này, người kia mới đến được. Có anh đồng nghiệp mà bố mất hai tháng mới nhận được tin vì trên này không có sóng, không có mạng internet” - thầy Nhất bùi ngùi.
Rồi thầy chỉ lên dãy núi cao ngút ngàn xa xa kia bảo bây giờ không còn viết thư nữa, nhưng mỗi lần nhớ vợ thì lại trèo lên trên đó, hứng sóng gọi về.
Gian nan chồng chất gian nan!
Có lẽ chỉ khi đi trên con đường mà bao năm qua các thầy cô giáo phải gồng mình đi qua mới hiểu được nỗi gian nan của các thầy cô cắm bản.
Để vào được Suối Tung, chúng tôi phải đi trên quãng đường rừng chừng hơn 10 km. Dù chỉ hơn 10 km nhưng cũng mất mấy tiếng mới có thể vào được tới nơi. Trước đây đường đã khó đi, trận lũ lụt lịch sử vừa qua lại khiến đường khó đi hơn vì nhiều đoạn sạt lở vô cùng nguy hiểm.
Con đường vắt quanh sườn núi chỉ rộng mấy gang tay nhưng lúc thì leo dốc dựng đứng lúc thì xuống dốc như rơi tõm vào một hố sâu . Chiếc xe máy liên tục phải cài cắm số 1, đồng chí công an huyện chở tôi phải gồng lên để không lỡ tay. Có những đoạn đường xe cài số 1 cũng không leo nổi, chúng tôi đành phải xuống đẩy xe lên con dốc lởm chởm đá. Đá có lúc phải nín thở, nhắm mắt, cảm giác như chỉ cần lạc tay lái là có thể rơi xuống vực sâu hun hút. Lên đến bản cảm giác như với tay là chạm đến trời.

Ánh mắt thơ ngây của học trò nơi vùng cao này đã níu giữ chân các thầy cô ở lại.
Thế mà bao năm qua, dù mưa hay nắng, cô Ánh vẫn mỗi ngày đều đặn sáng đi chiều về từ bản Táo vào Suối Tung với quãng đường gần 20 km. Cô Ánh còn bảo đó là cô con nhỏ nên ưu ái lắm mới được chuyển về đây chứ như trước là cắm bản ở Tà Cóm, ở Suối Hộc… đường xa, nhớ nhà đến chảy nước mắt cũng lâu lâu mới dám về vì đường khó đi.
Đáng nói là đồng bào ở đây vẫn xem chuyện học là thừa vì nó không mang lại cái ăn. Thế nên, lũ trẻ cũng ít đứa thiết tha với con chữ. Mỗi lần đến đầu năm học, các thầy cô lại lặn lội vào từng nhà vận động cho các con được đến trường.
Đường đi đã khó, “đường” đến với học trò còn khó hơn. Học trò nơi đây không rành tiếng Kinh nên những năm đầu lên đây, cô Ánh phải vừa học tiếng Mông vừa học phương pháp dạy. Ngày nào cô trò cũng phải “đánh vật” với từng “cái chữ”, từng “con số”, cứ tiếng H’Mông và tiếng Kinh đan xen nhau.
Giáo án soạn cũng chỉ là những bài giảng thông thường và đơn giản nhất. Cô bảo làm sao để các con nghe lời đã là khó chứ đừng nói dạy thế nào để chúng có thể hiểu.
Dần dần, cô cũng quen và chấp nhận những thiếu sót của học trò mình, rồi lại nỗ lực nhiều hơn để tìm cách dạy sao cho phù hợp.
Không những vậy, cơ sở vật chất thiếu thốn khiến các thầy cô đều phải dạy lớp ghép. Lớp học của cô Ánh có đủ độ tuổi từ 2 tuổi đến 5 tuổi, một buổi dạy cô phải xoay xở sao cho dạy chương trình phù hợp với các độ tuổi. Còn thầy giáo Nhất cũng phải kiêm 2 lớp (3 và 4) trong cùng một thời gian. Thầy cứ quay sang lớp này hướng dẫn bài cho học sinh lại tất bật sang lớp kia…

Nơi soạn giáo án của thầy chỉ là một góc nhỏ đơn giản trong căn phòng tạm.
“Cũng có nhiều giáo viên khó khăn quá mà bỏ cuộc nhưng mình nghĩ nếu mình cũng như bao thầy cô giáo khác nữa cũng bỏ cuộc thì lũ học trò kia biết phải làm sao? Cứ nhìn thấy mặt mũi lấm lem của chúng, nhìn thấy trời lạnh căm căm mà chỉ một manh áo mỏng đến trường hay những hôm nhịn đói để đi học thì tình thương sẽ lấn át đi tất cả” - thầy Nhất chia sẻ.
Trải lòng về cuộc đời và sự nhọc nhằn “cõng chữ lên non” của mình, tôi như thấy bao nhiêu con chữ mà các thầy cô mang đến với học trò là bấy nhiêu sự hy sinh. Viết về các thầy cô vẫn cảm thấy như ngôn từ không thể đủ. Nếu không có trái tim yêu thương và tràn đầy nhiệt huyết có lẽ các thầy cô hay những giáo viên miền xuôi đang cắm bản ngày đêm mang con chữ đến học trò vùng cao có lẽ không làm được…
Nguyễn Thùy/ Dân trí
Bài viết cùng chuyên mục
Đọc thêm
Tết Khuyến học xứ Thanh xuân Bính Ngọ 2026
Tối 21/2 (tức mùng 5 tháng Giêng), Hội Khuyến học tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Báo và Phát thanh, truyền hình Thanh Hóa tổ chức Chương trình truyền hình trực tiếp “Tết Khuyến học xứ Thanh” Xuân Bính Ngọ 2026; trao học bổng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học giỏi; trao thưởng cho người lao động sáng tạo tiêu biểu và phát động phong trào khuyến học, khuyến tài năm 2026. Tới dự chương trình có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy: Đào Xuân Yên, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy; Đỗ Thị Toán, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thanh Hóa cùng các đồng chí Nguyễn Quang Hải, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Cao Văn Cường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các ban, sở, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; Hội Khuyến học các xã, phường; đại diện các doanh nghiệp, doanh nhân, nhà hảo tâm cùng đông đảo học sinh, sinh viên, người lao động tiêu biểu trong tỉnh.
Đam mê khoa học và đào tạo thế hệ trẻ
Sinh ra từ mảnh đất hiếu học Hoằng Lộc, trưởng thành từ trường THPT chuyên Lam Sơn, người con ưu tú của xứ Thanh Nguyễn Phi Lê đã trở thành Phó Giáo sư, Tiến sĩ trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo – người đã lựa chọn Việt Nam để cống hiến cho khoa học và đào tạo thế hệ trẻ.
Sôi nổi Tết Khuyến học đầu xuân
Không chỉ hướng về giá trị tâm linh, mùa Xuân còn là dịp lan tỏa truyền thống hiếu học của quê hương. Mỗi dịp Xuân về, phong trào khuyến học, khuyến tài trên quê hương xứ Thanh lại thêm rộn ràng. Tết Khuyến học không chỉ là dịp tôn vinh tri thức mà còn là nơi lan tỏa nghĩa tình, trách nhiệm cộng đồng và niềm tin gửi gắm vào thế hệ trẻ.
Học sinh được cộng không quá 10% điểm tối đa của thang điểm xét tuyển Đại học
Theo quy chế tuyển sinh đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành, tổng điểm ưu tiên (gồm điểm thưởng, điểm xét thưởng, điểm khuyến khích) không được vượt quá 10% điểm tối đa của thang điểm xét tuyển, tức tối đa là 3 điểm trên thang 30.
Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố quy chế tuyển sinh
Ngày 15/2, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố quy chế tuyển sinh các ngành đào tạo trình độ đại học và ngành giáo dục mầm non trình độ cao đẳng.
Thanh Hóa: Đẩy nhanh hạ tầng giáo dục vùng biên giới
Năm 2025, tỉnh Thanh Hóa đã khởi công xây dựng 6 trường nội trú liên cấp tại các xã vùng biên với tổng mức đầu tư hơn 739 tỷ đồng. Đây là những công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng giáo dục khu vực biên giới.
Nỗ lực chăm lo cho học sinh vùng biên giới
Ở những vùng biên giới xa xôi, con đường đến trường của nhiều em học sinh không chỉ dài về khoảng cách địa lý, mà còn chất chứa không ít nhọc nhằn. Với các em, được đến lớp đều đặn, được học tập trong điều kiện an toàn, đủ đầy là ước mơ giản dị nhưng không dễ dàng. Thấu hiểu điều đó, những năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm đặc biệt cho giáo dục vùng biên, bằng những chủ trương, chính sách cụ thể, lâu dài, nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và mở ra cơ hội phát triển bền vững cho thế hệ tương lai nơi phên dậu Tổ quốc.
Đề xuất cấm tăng chỉ tiêu nếu dưới 70% sinh viên có việc làm đúng ngành
Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố dự thảo Thông tư quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh. Dự thảo đưa ra nhiều điều kiện mới nhằm siết chặt chất lượng đào tạo và hiệu quả đầu ra của các cơ sở giáo dục đại học.
Tuyển sinh đại học 2026: Những mốc thời gian thí sinh cần lưu ý
Theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thí sinh dự tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2026 cần ghi nhớ các mốc thời gian quan trọng sau đây.
Hai trường hợp miễn thi ngoại ngữ trong xét công nhận tốt nghiệp THPT
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức làm rõ các trường hợp được miễn thi môn ngoại ngữ trong xét công nhận tốt nghiệp THPT từ kỳ thi năm 2026 - một điểm mới quan trọng tác động trực tiếp đến hàng trăm nghìn thí sinh trên cả nước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.