Việt Nam nhập lượng lớn than, giá than Trung Quốc cao đột biến
Không cung cấp nhiều nguồn than cho Việt Nam, song than Trung Quốc có giá đắt gấp 3 giá than nhập từ các nước khác vào Việt Nam. Trong khi đó, lượng than xuất khẩu đi của Việt Nam có mức giá chưa bằng 50% của Trung Quốc cung cấp cho ta.
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, 3 tháng đầu năm Việt Nam đã phải nhập gần 9,4 triệu tấn than, trị giá hơn 910 triệu USD, bình quân hơn 2,2 triệu đồng/tấn than. Đây là thời điểm các doanh nghiệp đầu mối của Việt Nam nhập lượng lớn than phục vụ cho công nghiệp nặng như: luyện kim, nhiệt điện.

Than nhập về Việt Nam tăng mạnh về lượng và giá trị, trong đó than Trung Quốc có giá cực cao
Tính toán của hải quan, lượng nhập than của Việt Nam tăng gần 150%, trong khi giá nhập đã tăng hơn 88% so với cùng kỳ năm trước.
Theo phân loại xuất xứ, hiện Việt Nam nhập lượng lớn than từ Indonesia, với hơn 3,7 triệu tấn, chiếm gần 40% tổng lượng than nhập về Việt Nam.
Giá than từ Indonesia nhập về Việt Nam là 1,4 triệu đồng/tấn, thấp hơn nhiều so với mức bình quân các thị trường khác. Theo báo cáo của Bộ Công Thương, than nhập từ Indonesia chủ yếu là loại than phẩm cấp thấp, than cám phối trộn với các loại than khác để dùng cho nhà máy nhiệt điện.
Nước có lượng than nhập về Việt Nam lớn thứ 2 là Nga, 3 tháng đầu năm, Việt Nam nhập của Nga hơn 1,5 triệu tấn than, với kim ngạch hơn 143 triệu USD (hơn 2,1 triệu đồng/tấn).
Trung Quốc cũng là một trong những nước xuất khẩu than vào Việt Nam. Tuy lượng nhập rất ít, chỉ 292.000 tấn (hơn 3% tổng lượng than nhập của Việt Nam) nhưng kim ngạch khá cao khoảng 83 triệu USD.
Như vậy, tính bình quân, mỗi tấn than nhập của Trung Quốc giá có khoảng 6,5 triệu đồng, cao gấp 3 lần so với giá than nhập bình quân của các nước về Việt Nam và gấp 4 lần so với giá than nhập từ Indonesia.
Ở chiều ngược lại, giá than và lượng than xuất khẩu của Việt Nam ngày càng ít đi. Hết 3 tháng đầu năm 2019, Việt Nam xuất hơn 31.300 tấn than, kim ngạch thu về hơn 4,3 triệu USD, lượng và giá trị giảm trên 94%. Giá bình quân than xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 3,1 triệu đồng/tấn.
Điều đáng nói, hầu hết các loại than xuất của Việt Nam là than phẩm cấp cao, thuộc loại Antraxit. Trong khi đó, các loại than nhập của Trung Quốc về Việt Nam chủ yếu là than cốc, than dùng cho công nghiệp quặng, gang thép.
An Linh/ Dân trí
Bài viết cùng chuyên mục
Đọc thêm
Tăng thu ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu
Năm 2025, trong bối cảnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa có nhiều thuận lợi đan xen khó khăn, Chi cục Hải quan khu vực X đã triển khai đồng bộ các giải pháp tạo thuận lợi thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp thông quan hàng hóa, qua đó thúc đẩy hoạt động xuất, nhập khẩu và góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước.
Chương trình OCOP thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn
Được triển khai từ năm 2018, chương trình ''Mỗi xã một sản phẩm'' OCOP của Thanh Hóa đã tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế nông thôn. Thông qua OCOP, các cá nhân, hộ sản xuất, hợp tác xã được khơi dậy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới tư duy, từng bước đưa các sản phẩm địa phương vượt ra khỏi thị trường truyền thống, mở rộng quy mô, nâng cao giá trị và hiệu quả kinh tế.
Tập trung phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực
Trong giai đoạn 2021-2025, Thanh Hóa đã xác định 12 sản phẩm nông nghiệp chủ lực để các ngành, địa phương chú trọng phát triển. Trong đó, lúa là một trong những sản phẩm thế mạnh, chủ lực của tỉnh.
Xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt 18,5 tỷ USD trong năm 2025
Năm 2025, bất chấp tác động từ thị trường quốc tế và biến đổi khí hậu, ngành lâm nghiệp Việt Nam vẫn giữ vững đà tăng trưởng, hoàn thành và vượt nhiều chỉ tiêu then chốt. Xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt 18,5 tỷ USD, tăng khoảng 6,6% so với năm 2024, khẳng định vị trí ngành hàng xuất khẩu chủ lực của nông nghiệp và đóng góp lớn cho nền kinh tế.
Tín dụng tăng mạnh, hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực thanh khoản cuối năm
Theo ngân hàng nhà nước, tính đến ngày 24/12, tín dụng tăng hơn 17 % trong khi huy động vốn chỉ tăng 14,1%. Mức chênh lệch này đã gây áp lực lên thanh khoản của hệ thống Ngân hàng.
Thanh Hóa có thêm hơn 18.600 doanh nghiệp trong 5 năm 2021 - 2025
Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, quy mô vốn ngày càng cải thiện, cùng với các chính sách hỗ trợ đồng bộ đã giúp khu vực doanh nghiệp Thanh Hóa từng bước khẳng định vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế - xã hội.
Doanh nghiệp gia tăng sản xuất, đáp ứng nhu cầu thị trường
Cuối năm là thời điểm quan trọng để các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng tốc sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu tăng cao của thị trường. Đồng thời, tạo sự bứt phá, phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu tăng trưởng đề ra trong năm, tạo đà tăng trưởng trong năm tới.
Thanh Hóa: Chăn nuôi giữ vững đà tăng trưởng hướng tới phát triển bền vững
Lĩnh vực chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong năm 2025 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, đạt 5,2% và vượt kế hoạch đề ra. Tổng đàn gia súc, gia cầm đứng trong tốp đầu cả nước; dịch bệnh cơ bản được kiểm soát; sản lượng, giá trị các sản phẩm chăn nuôi tăng so với cùng kỳ. Đặc biệt, chăn nuôi quy mô lớn theo chuỗi liên kết đang từng bước thay thế chăn nuôi nhỏ lẻ, góp phần tạo ra sản phẩm hàng hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Sản xuất công nghiệp Thanh Hoá giữ vững đà tăng trưởng
Năm 2025, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 15,8%, là động lực chính đóng góp cho tăng trưởng GRDP và thu ngân sách địa phương. Kết quả này phản ánh những nỗ lực rất lớn của các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp trong việc triển khai có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất.
Phát triển thương mại Việt Nam - Trung Quốc
Theo thống kê của Cục Hải quan, năm 2025, Trung Quốc vẫn là đối tác lớn nhất của Việt Nam với trị giá thương mại hàng hóa song phương ước đạt 252 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm trước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.