Bản hoà tấu nơi đại ngàn
Đến với các bản người Thái ở xứ Thanh, nơi nào có nhà sàn, có khăn piêu, áo cóm là ở đó có văn nghệ bản Mường… Hãy một lần ghé thăm các bản của đồng bào Thái để được đắm mình trong những bản hoà tấu mang đậm bản sắc âm nhạc dân gian Thái, chứa đựng trong đó tâm hồn, tình cảm và cả cốt cách của người dân nơi này.
Khi đến thăm những bản dân tộc Thái, đầu tiên du khách sẽ được bà con chào đón bằng những điệu khua luống rộn ràng. Đây được xem là một thể loại âm nhạc độc đáo của người Thái, thường được sử dụng trong mỗi dịp lễ Tết hay ngày vui của bản.
Theo lời của những bậc cao niên, khua luống cũng như nhiều loại hình diễn xướng dân gian khác, có từ thời rất xa xưa, bắt nguồn từ một sinh hoạt quen thuộc trong đời sống là giã gạo. Hễ là người Thái, biết cầm chày giã gạo thì đều biết khua luống, đặc biệt là các cô gái.

Trước kia, dưới gầm mỗi ngôi nhà sàn của người Thái đều có một chiếc luống dùng để giã gạo. Vào mỗi sớm mai, khi trời còn chưa tỏ, người phụ nữ đã phải thức dậy, bắt đầu những công việc của mình. Gia đình nào đông người thì sẽ có 2 đến 3 người phụ nữ cùng giã gạo, tiếng chày nâng lên hạ xuống nhịp nhàng, tạo nên những thanh âm rộn ràng nghe rất vui tai. Nhưng cũng có những gia đình neo người, chỉ có một người phụ nữ bên luống giã gạo, tiếng chày va vào thành luống lúc này lại tạo nên âm thanh nghe trầm đục, khoan thai… Cứ thế, qua thời gian, khua luống đã trở thành một loại hình nghệ thuật đặc sắc, thân thuộc của các bản làng người Thái.
Bà Ngân Thị Chìm, bản Bút, xã Nam Xuân, huyện Quan Hóa, Thanh Hóa chia sẻ: "Ngày xưa các bà các mẹ làm việc quần quật cả ngày. Sáng giã gạo, tối giã sắn. Mỗi khi nghỉ ngơi, các bà lại cùng nhau khua luống tạo nên những giai điệu vui nhộn nhằm xua đi những mệt mỏi. Dần dần, từ những giai điệu mộc mạc ấy thành những bài khua luống được nhiều người yêu thích".

Có thể thấy, quá trình sống, lao động và sáng tạo, chiếc luống dùng để giã gạo dần trở thành một loại nhạc cụ, và cùng với nó là một hình thức trình diễn nghệ thuật dân gian độc đáo gắn liền với sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của Nhân dân. Luống không còn thuần túy là công cụ lao động, mà đã trở thành một nhạc cụ truyền thống của người Thái.
Tham gia khua luống thường là phụ nữ và số người biểu diễn bắt buộc là số lẻ: 5, 7, 9, 11. Đây là những con số, theo quan niệm người dân chính là biểu trưng cho sự may mắn. Để thực hiện các động tác khua luống, thường có một người đứng đầu luống cầm chày giã nhịp, còn những người khác thì khua. Khi có nhiều người cùng đứng giã chung một cối gạo thì mọi người phải biết cách giữ đều nhịp, tránh cho chày va đập vào nhau. Cứ thế qua thời gian, người phụ nữ Thái khua chày thành điệu, thành bài, trở thành nét văn hóa nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Mỗi khi nhịp chày khua luống vang lên là bàn chân muốn bước, cái bụng muốn theo đến nơi có lễ hội, có những trò vui chơi... Tuy âm thanh của điệu khua luống không ngân nga, bổng trầm như những loại nhạc cụ hiện đại, nhưng nó lại gắn kết mọi người với nhau thành một khối thống nhất.

Ông Cao Bằng Nghĩa, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
Ông Cao Bằng Nghĩa, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho biết: "Cho đến bây giờ chúng ta rất ngưỡng mộ khả năng diễn xuất của các bà, các chị trong trò diễn xướng khua luống. Các điệu khua luống của dân tộc Thái không có tiết tấu hay giai điệu luyến láy như các nhạc cụ của dân tộc khác, nhưng các giai điệu của khua luống như một thứ keo kết dính giữa tình cảm con người với con người. Khi mình đang ngồi ở một nơi nào đó trên nhà hay đang làm việc ở trên nương, nhưng khi nghe tiếng khua luống ở đâu đó bà con thấy lòng thổn thức, họ mong mau chóng xong công việc để trở về được tham gia chương trình khua luống đó. Và giai điệu khua luống mang tính liên kết giữa con người với con người, họ cầu mong tiếng khua luống vang mãi trong tâm khảm của họ, mong cho mọi người luôn mạnh khỏe hơn, vui vẻ hơn và có một cuộc sống ấm no hơn".
Trong bản hoà tấu của làn điệu khua luống không thể thiếu dàn cồng chiêng. Chiêng tượng trưng cho 4 mùa xuân, hạ, thu, đông; luống là tượng trưng cho sông nước. Tiếng trống, chiêng, khua luống vang lên hòa quyện với nhau tạo thành một bản hợp xướng sôi động để mọi người cùng quây quần ca hát, nhảy múa.
Theo quan niệm của dân tộc Thái, tiếng cồng chiêng là tiếng của lòng người. Đồng bào Thái thường dùng nhạc cụ này trong nhiều nghi thức, lễ hội, hay trong công việc hệ trọng có ảnh hưởng đến sự sinh tồn của gia đình, dòng tộc. Đồng bào quan niệm rằng, tiếng vang của cồng, chiêng là ngôn ngữ để giao tiếp với trời đất, thánh thần, tổ tiên; giao tiếp giữa người với người, cầu mong cho nhân khang vật thịnh. Trong cuộc sống của người Thái, cồng chiêng không chỉ đơn thuần là loại nhạc cụ phục vụ đời sống tinh thần, vật chất của con người, mà còn là một "linh vật" biểu tượng cho sự ấm no, hạnh phúc bền vững. Vì lẽ đó, cồng, chiêng được người Thái xem xét rất cẩn thận khi mua. Đa số những cồng, chiêng hiện có đều do ông cha từ thời xa xưa để lại.

Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, đồng bào Thái cũng dùng tiếng cồng, chiêng để ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, nói lên khát vọng của con người trong cuộc sống. Mỗi dàn nhạc cồng, chiêng của người Thái chỉ có 4 chiếc, tượng trưng cho 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông; 4 chiếc được đặt tên lần lượt là Cồng mẹ (chiếc lớn nhất), Cồng chị, Cồng em, Cồng út; hoặc cũng có thể gọi là Cồng anh, Cồng em…
Cách đánh cồng, chiêng của người Thái cũng tương đối đơn giản, chỉ cần lắng nghe tập trung một chút là có thể đánh được. Khi đánh thì dùng dùi gõ vào, sao cho khớp với tiếng của trống và tiếng của khua luống hay sạp, tạo nên một giai điệu hòa âm nhộn nhịp, vui tươi. Thông thường những bộ cồng chiêng tốt là không có vết lõm nào trên bề mặt, núm chiêng cao và nhỏ. Đặc biệt, là khi đánh vào chiêng, âm thanh sẽ ngân dài, trầm bổng hơn, làm cho người nghe thấy phấn khởi.
Anh Vi Văn Đức, bản Năng Cát, xã Trí Nang, huyện Lang Chánh, Thanh Hóa cho biết: "Ngay từ nhỏ tôi đã thấy các ông bà biểu diễn cồng chiêng trong các ngày lễ, ngày hội nên năm 10 tuổi tôi đã biết sử dụng. Chiêng to nhất thì được gọi là anh cả, sau đó cứ lần lượt anh hai, anh ba, em út, thể hiện sự đoàn kết giữa các anh em với nhau. Bốn chiếc chiêng có các âm sắc khác nhau, nhưng nếu ta đánh một chuỗi liên tục thì không hay. Khi ta đánh chiêng 1-3, rồi chiêng 2-4 thì sẽ hay hơn, tạo thành chuỗi âm nhạc".
Trong nghệ thuật dân gian, đồng bào Thái có nhiều loại hình diễn xướng khá đặc sắc, điển hình nhất là điệu múa sạp. Khi đến bản Thái, sau những cuộc gặp gỡ, trò chuyện thân tình, thì bà con sẽ khéo léo đưa du khách hòa nhịp với cộng đồng nơi đây trong cái nắm tay đoàn kết và bước nhảy rộn ràng của điệu múa sạp…

Để chuẩn bị cho buổi múa sạp, người tham gia thường chia làm hai tốp: một tốp đập sạp và một tốp nhảy sạp. Người ta cũng có thể luân phiên nhau múa hoặc đập sạp. Những người đập sạp phải rất đều tay, tốc độ ban đầu chậm rãi nhưng sau có thể nâng dần lên, khiến các bước nhảy khó dần và cũng hấp dẫn, cuốn hút hơn. Người nhảy sạp phải chứng tỏ được sự khéo léo của mình, theo đúng và kịp tiết tấu của người đập sạp. Nhanh quá hoặc chậm quá đều không được vì chân sẽ vấp vào sạp. Người ta không quy định có bao nhiêu người đập sạp và bao nhiêu người nhảy sạp, càng đông càng vui, nhất là với những người nhảy sạp.
Theo thời gian, nhiều điệu múa dân gian bị mai một, thất truyền, nhưng riêng múa sạp, do đặc tính cộng đồng, nên vẫn tồn tại. Không những thế, múa sạp còn được nâng cao hơn về tính nghệ thuật, giúp cho đời sống của đồng bào vùng cao thêm phong phú.
Ngày nay, dẫu tiếp nhận nhiều loại hình văn hóa đa dạng, nhưng với đồng bào Thái, tình yêu nguồn cội vẫn là dòng chảy trong tâm hồn mỗi người. Âm thanh của cồng chiêng, khua luống hay nhảy sạp là những bản hoà tấu của đại ngàn hùng vĩ, là ngôn ngữ giao tiếp của con người với thế giới siêu nhiên; góp phần tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông.
Miền thảnh thơi
Có một Thanh Hóa bình yên… như vòng tay của mẹ. Nơi đỉnh núi trùng điệp thức giấc trong bảng lảng mây ngàn Nơi bản làng nép mình dưới thung lũng, bình yên như một hơi thở nhẹ… Những thửa ruộng bậc thang mùa đổ ải lấp lánh tựa những tấm gương trời. Khi xanh mướt lại mềm mại như những phím đàn tự nhiên đang tấu lên bản nhạc về sự sống. Trước thiên nhiên hùng vĩ, con người thật nhỏ bé, nhưng trái tim lại rộng mở đến vô cùng.
Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng ở bản Bút
Giữa đại ngàn xanh thẳm của xã Nam Xuân, bản Bút hiện lên bình yên với những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi, tiếng suối róc rách hòa cùng âm thanh cồng chiêng vang vọng. Nơi đây đang dần trở thành điểm đến mới của du lịch cộng đồng xứ Thanh bởi vẻ đẹp nguyên sơ và những giá trị văn hóa truyền thống của người Thái.
Phát động cuộc thi "Việt Nam hạnh phúc - Happy Vietnam 2026"
Sau ba mùa tổ chức thành công, cuộc thi ảnh và video "Việt Nam hạnh phúc - Happy Vietnam" đã trở thành một sân chơi sáng tạo giàu cảm xúc, nơi lan tỏa những hình ảnh đẹp, những câu chuyện nhân văn về đất nước, con người và cuộc sống Việt Nam. Bước sang năm 2026, cuộc thi tiếp tục được triển khai với quy mô ngày càng chuyên nghiệp, nội dung phong phú và chất lượng được nâng cao.
Khép lại ngày hội văn hóa các dân tộc thiểu số Thanh Hóa năm 2026
Sau hai ngày diễn ra sôi nổi, tối 20/5, Liên hoan văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa năm 2026 tại xã Hồi Xuân đã chính thức khép lại, để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân và du khách.
Du lịch trải nghiệm tại Bãi Đông Nghi Sơn
Nếu bạn đang tìm kiếm một điểm đến yên bình, ít ồn ào nhưng vẫn đủ sức làm dịu đi cái nóng oi ả của mùa hè, thì Bãi Đông ở phường Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa chắc chắn là điểm dừng chân lý tưởng. Nơi đây ghi điểm nhờ vẻ đẹp nguyên sơ, vắng lặng và đầy chất thơ với bờ cát trắng, biển xanh trong cùng những mỏm đá tự nhiên ôm sát chân núi.
Kong Forest Adventure - Top 10 khu du lịch được yêu thích nhất tại lễ trao giải The Best of Vietnam 2026
Kong Forest Adventure ở xã Suối Dầu, tỉnh Khánh Hòa - công viên du lịch thám hiểm trong rừng lớn nhất Việt Nam vừa được xướng tên trong top 10 khu du lịch được yêu thích nhất tại lễ trao giải The Best of Vietnam 2026. Đây là sự ghi nhận tiếp theo sau chuỗi thành tích mà khu du lịch đã tích lũy được kể từ khi khai trương năm 2019.
Hồ Bản Chang "nốt trầm xanh" mở hướng du lịch vùng cao Thái Nguyên
Trong bối cảnh du lịch trải nghiệm và nghỉ dưỡng gắn với thiên nhiên lên ngôi, hồ Bản Chang (xã Ngân Sơn, Thái Nguyên) đang nổi lên như một điểm đến mới của vùng Đông Bắc. Không dày đặc dịch vụ, nơi đây hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ và những trải nghiệm 'chữa lành' hiếm có.
Quần đảo Hải Tặc - "viên ngọc hoang sơ" giữa biển xanh
Quần đảo Hải Tặc, xã Tiên Hải, tỉnh An Giang gồm 18 hòn đảo lớn nhỏ, là một trong những vùng biển hiếm hoi ở Việt Nam vẫn giữ được gần như trọn vẹn vẻ đẹp nguyên sơ, mộc mạc và đầy bí ẩn. Với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, những bãi cát trắng trải dài, nước biển xanh biếc, từ lâu, nơi đây đã trở thành địa điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách.
Khép lại ngày hội văn hóa các dân tộc thiểu số Thanh Hóa năm 2026
Sau hai ngày diễn ra sôi nổi, tối ngày 20/5, Liên hoan văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa năm 2026 tại xã Hồi Xuân đã chính thức khép lại, để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân và du khách.
Mùa hội dưới chân núi Pù Rinh
Tháng năm về trên miền Tây xứ Thanh bằng màu nắng óng ả trải dài trên những triền núi xanh thẳm, bằng hương rừng ngan ngát theo gió đại ngàn và bằng thanh âm rộn ràng của mùa hội nơi miền đất thiêng Châu Lang lịch sử. Giữa mênh mang mây núi, dưới chân Pù Rinh hùng vĩ, hàng ngàn người dân và du khách cùng tụ về trong Lễ hội Chí Linh Sơn năm 2026 với chủ đề “Hào khí Linh Sơn”. Một mùa hội không chỉ thắp sáng ký ức lịch sử hơn sáu thế kỷ, mà còn ngân vang niềm tự hào về khí phách Lam Sơn trên vùng đất mà nghĩa quân của Lê Lợi từng “nếm mật nằm gai”, hun đúc ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.