Đường dây nóng: 0237 3721150
Podcast 19/03/2026 08:51

Đọc truyện: “Quán ba cô” | Trịnh Tuyên

Mời quý vị và các bạn nghe truyện ngắn “Quán ba cô” của nhà văn Trịnh Tuyên qua sự thể hiện của BTV Lê Dung.

Đúng như lời tiên đoán của lão Kiệm, hai năm sau, ba cô chủ quán ở Quán Ba Cô đều đã có chồng, yên bề gia thất…

***

Cũng chừng thời gian này, hai năm về trước, làng Thành An xuất hiện một quán ăn ngon có tiếng, có ba cô chủ quán, gọi là quán ba cô.

Ba cô gái là người trong làng, đi kiếm sống ở ba nước khác nhau, về quê, chung vốn mở quán ăn. Cô Tuyết ở Nga, cô Mai Hàn Quốc, còn cô Lan, Singapo. Trở về làng, cả ba cô đều đã xấp xỉ tứ tuần. Làng Thành An cách đường tỉnh lộ có dễ gần cây số, nên thực khách chủ yếu người trong làng. Kiếm được đồng tiền, bát gạo, giữa lúc dịch giã liên miên thế này, nghề kinh doanh ăn uống càng khó.

Ba cô ba tính cách khác nhau. Cô Tuyết từ Nga về, da thịt trắng nõn, mềm mại như lông cừu tơ, đặc trưng của người sống lâu xứ lạnh, đúng với tên cô, Tuyết! Tóc cô màu vàng óng như vạt nắng chiều thu, buộc thành hai bím to, đi lại cứ lúc lắc, đung đưa trước ngực, đôi mắt to, thoáng vẻ ngơ ngác, trông như một cô gái Nga chính hiệu. Đám đàn ông trung niên hay đọc sách, thấy cô có nét gì đó, giống nhân vật trong tiểu thuyết Nga, thân mật gọi cô là Na Ta Sa. Sau này, cái tên ngoại quốc người ta gọi cho vui, lại vận vào chính cuộc đời cô. Khi cô bưng món ăn đến các bàn, gần như áp vào lưng khách, có cảm giác luồng hơi từ cơ thể của cô tỏa ra mùi thơm man mát. Cặp mông tròn, núng nính, đùi to, đôi cánh tay trần lộ ra sau ống tay áo ngắn có viền đăng ten màu hoa cà, bụ bẫm, trắng ngần hệt như cánh tay búp bê, trông cô càng quyến rũ. Cô Lan, cô Mai không có được dáng vẻ ấy, có lẽ vì sống ở hai Quốc gia Bắc và Tây á, khí hậu gần giống quê nhà, nên, mặc dù phiêu bạt xứ người bao nhiêu năm, nhưng màu da, ánh mắt, mũi, cũng không đổi khác là mấy so với ngày đầu bước chân ra đi. Nhìn vào mắt hai cô, thấy ánh nhìn lanh lợi, lấp lánh trên hai cánh mũi hơi tẹt, vẻ khôn ranh, láu lỉnh. Hai cô này không thu hút khách bằng Na Ta Sa, mặc dù Na Ta Sa cao tuổi hơn...

Mở quán ăn, tức là mở một "nghiệp vụ kinh doanh" nói theo thuật ngữ của đám chuyên ngành tài chính kế toán. Một người bình thường cũng phải biết làm phép tính dự thu trước. Tỷ dụ như trong làng có bao nhiêu đàn ông chủ gia đình diện khá giả, bao nhiêu cán bộ hưu trí, thợ xây, thợ mài đá, thợ lăn sơn, mức thu nhập ngày bao nhiêu... Vì chỉ có đám thợ hàng ngày kiếm ra tiền mới hay ăn sáng ở quán, chứ mấy ông nông nghiệp thuần túy, quần xắn quá gối, quanh năm trồng cà, trồng ớt, dưa chuột, giá cả bấp bênh, được đồng nào mụ vợ quản lý hết, dù quán có món lạ như trên cung trăng, nhử kẹo cũng chả dám thò mặt ra. Rồi nữa, phải dự đoán xem, mỗi tháng họ góp mặt ở quán được mấy lần? Mỗi lần, ăn món gì? Lời lãi được mấy ngàn? Nhân lên cả làng? Rồi khách ở các làng lân cận, khách vãng lai, tính theo công thức toán xác suất, cộng thêm bao nhiêu, trừ hết chi phí, thành tổng tiền thu trong ngày, trong tháng. Lợi nhuận chia ba ... Có chắc ăn rồi mới mở. Sau bao nhiêu năm bôn ba xứ người, kiếm được chút lưng vốn, chắc ba cô cũng đủ khôn ngoan và tính chán ra rồi.

Làng Thành An có thể nói là kiểu mẫu của một vùng quê đang chuyển đổi mạnh mẽ từ làng lên phố. Hôm quán khai trương, làng đông như có đám cưới, người ra người vô tơi tới, người gọi người kêu đồ ăn ồi ồi, khiến ba cô phải nhờ thêm mấy người nhà phục vụ. Trông ba cô chạy bàn tíu tít, mồ hôi mồ kê lấm tấm trên trán nhưng nét mặt thì tươi cười phớn phở lắm. Mở hàng ăn mà được như thế, bảo sao không vui? Khách đủ thành phần, nhưng chủ yếu vẫn là đám trung niên, các ông về hưu, mất sức, mấy gã nhà văn nhà thơ vườn, cặm cụi, đêm hôm viết lách, năm thì mười họ, kiếm được vài trăm ngàn nhuận bút, kéo bạn ra quán, gọi la khao... Nhìn cách nói chuyện, ăn mặc và đồ nhậu trên bàn mà suy ra tính cách và tiềm năng kinh tế mỗi người. Xem ra, làng Thành An, đời sống người dân và tiềm lực kinh tế cũng khá giả ra phết!

Sự hấp dẫn của quán, chủ yếu vẫn là ba cô chủ chưa chồng , mà tuổi thì đã quá hai lần cập kê. Tuổi ấy, độ trải nghiệm cuộc sống, ăn nói, xử sự, có thể trung hòa được nhiều thành phần, tầng lớp trong làng. Ba cô lại bôn ba hải ngoại, như những bông hoa nửa mùa đẫm đầy sắc hương lạ. Đến như lão Kiệm, ngấp nghé sáu mươi, hai mắt kèm nhèm toàn nhử, quanh năm làm vườn, cuốc đất gieo hạt giống rau rền lại nhầm là củ cải, trồng cà lẫn cả vào ớt, keo kiệt có tiếng, xưa nay chưa ai thấy ra quán ăn sáng bao giờ, vậy mà hôm khai trương, nhân mụ vợ về quê ngoại ăn giỗ, cũng đủng đỉnh bước ra khỏi nhà, rủng rỉnh trong túi áo, số tiền, ước tính, trị giá hơn nửa yến ớt khô chứ ít gì?

- Này cô em! Sao đĩa lòng của ông này lại đầy hơn của anh? Em quan tâm đến anh ta từ bao giờ thế?

Cô Tuyết vốn thật thà, tỏ vẻ lúng túng, chưa giải thích kịp với câu đùa cợt, nhưng cô Mai mũi tẹt, sống ở Hàn Quốc về, vẻ nhanh nhẩu láu lỉnh, đưa thức ăn đến bàn bên cạnh đã nghe thấy.

- Trông đầy thế thôi chứ làm sao chất lượng bằng đĩa của anh Kiệm? Chị Tuyết nhà em khôn lắm đấy! Thái cho anh toàn những miếng lòng mề ngon.

- Hê hê hê! Lòng mề của ba cô, miếng nào mà chả ngon? - Một gã đàn ông trung niên bàn bên cạnh tranh thủ đế vào, cười lên hơ hớ, để lộ hàm trên có mấy cái răng giả.

Gã Kiệm nghe, sướng tai, cười khé khé.

- Ừ! Cô em nói có lý. Giờ anh mới nhìn kỹ, nòng gì mà trắng thế? Cám ơn em Tuyết, à không, Na Ta Sa nhé! Sáng mai anh lại ra.

- Vâng ạ! Sáng mai chúng em lại hân hạnh được phục vụ các anh ạ!- Cô Lan nhanh nhẩu.

Rượu vào rượu vào! Lời ra lời ra...

Từ ngày có quán ba cô, làng Thành An sáng ra, nhịp điệu đón bình minh vui hẳn lên. Cô Na Ta Sa hay làm duyên theo kiểu gái Nga. Mùi cơ thể cô cũng khác. Nước hoa Nga cô xức có mùi thơm ngậy như mỡ cừu. Ai đã từng tiếp xúc hay ở gần người Nga, rất dễ nhận ra. Trong làng có Thiếu tướng công an về hưu, ông Nguyên Quyền rất thích món ăn Nga được làm từ tay cô. Ông Nguyên Quyền nghe đâu làm Cục phó hay Cục trưởng cục Phòng cháy chữa cháy gì đó ở Bộ công an. Ông có ngôi nhà khá khang trang ở phố Yết Kiêu, nhưng khi nghỉ hưu, ông lại thích về làng, nơi chôn rau cắt rốn với bao nhiêu kỷ niệm tuổi thơ như người ta thường nói. Biết ông một thời học ở Học viện kỹ thuật phòng cháy chữa cháy Kharkov, nên sáng nào ông ra quán, cô Na Ta Sa cũng nhanh tay chế biến cho ông một đĩa xa lát nhỏ ăn kèm với phở. Thiếu tướng Quyền góa vợ. Vợ ông vốn là Bác sỹ Trưởng khoa Ngoại ở một bệnh viện lớn, chết do đột quỵ. Người ta bảo, bà vợ ông là một người đàn bà có đôi tay vàng, phẫu thuật tài năng. Hầu như các ca mổ khó, không thể thiếu bàn tay thiên phú của bà. Bà gục ngã sau một ca phẫu thuật kéo dài suốt mười hai tiếng đồng hồ. Đúng là sinh nghề tử nghiệp, xưa nay các cụ nói, cấm bỏ được câu nào. Đến quán, ông thường ngồi bàn ở góc cuối, ở vị trí ấy , ông có thể đưa mắt quan sát hết độ nhộn nhịp của một quán ăn sáng trong làng và thỏa sức ngắm cô Tuyết đi lại, phục vụ thực khách rất điệu đàng. Thành ra, muốn bê thức ăn đến bàn của ông, cô Na ta Sa phải đi qua mấy dãy bàn kê gần nhau. Mấy gã trung niên né lưng cho cô đi , kẻo nhỡ không may vô ý mà bị vướng vào, cả bát phở bò tái hay bát sườn hầm nóng bỏng đổ ụp xuống lưng thì chỉ có mà la trời. Vậy mà nhiều anh vẫn cứ mong cho cô vô ý chạm cặp mộng nở hay cánh tay trắng nõn vào lưng hoặc vai hay cái khủy tay như cái dùi đục cố ý khuỳnh ra. Nhiều con mắt kín đáo nhìn theo cái eo lưng béo lẳn của cô, không nén nổi một tiếng thở dài vì ghen với ông Thiếu tướng.

Cô Na Ta Sa không phải diện đi lao động xuất khẩu, cô sang Nga bán hàng cho một người cô ruột. Có lưng vốn khá, cô tìm đường về quê, vì ở nhà còn cha mẹ và một thằng em trai…

Vào một buổi sáng , quán ba cô được vinh hạnh tiếp một vị khách người Nga, bạn cùng Học viện với Thiếu tướng Quyền, vừa được Bộ công an mời sang Việt Nam, tham gia một dự án chữa cháy rừng. Đó là Tiến sỹ Xu kha nốp Nhi cô lai A lếch xan đơ rơ I va nô víts. Nhìn thấy ba cô chủ quán xinh đẹp, ông tươi cười giơ tay : - Xin chào ba cồ gái! Ba cồ gái khỏe chứ? Ba cô chủ quán đều vui vẻ đến bắt tay vị khách đặc biệt. Nhìn thấy thái độ niềm nở của ba cô, ông ta khẽ cúi đầu: Xí bờ! xí bờ... (Cám ơn! Cám ơn) ba que em! Cám ơn ba cô em mà nghe cứ như cám ơn ba que kem, khiến ba cô cười ré lên. Mấy gã thợ xây, tò mò còn nán lại, tay cầm cái bay vét hồ, chỉ chỉ chỏ chỏ, vỗ tay cười hí hí. Ông xua tay: Con đò! Con đò! ( côn đồ, côn đồ) khiến cho họ càng cười rũ ra.

Hình như Thiếu tướng đã điện báo trước, nên các món ăn đã được Na Ta Sa chuẩn bị khá tươm tất, bày ở gian phía trong, cách biệt với bên ngoài bằng tấm ly đô dày màu xanh nước biển. Na Ta Sa được phen trổ tài nấu món ăn ngoại quốc. Cô chế biến món súp củ cải đỏ được làm từ củ cải việt nhuộm gấc, hương vị từ các loại rau thơm, ớt, hành tây, toàn đồ sạch, mua trong vườn nhà lão Kiệm, nhúng trong nước sốt thịt bò, béo ngậy, ngon tuyệt. Như lời thiếu Tướng Nguyên Quyền nói thì Tiến sỹ Xu kha nốp là Viện sỹ viện Hàn lâm khoa học Nga, bay từ Moscova sang từ tháng trước, đang giúp Bộ công an hoàn thiện hệ thống chữa cháy rừng bằng công nghệ phun sương hiện đại. Ông đang cùng các nhà khoa học Việt Nam đi đến các rừng Quốc gia nghiên cứu, triển khai, lắp đặt. Bây giờ là mùa thu, không khí khô hanh, lá rụng nhiều, các rừng Quốc gia đang đối mặt với nạn cháy rừng. Ông sang Việt Nam lần này mới biết bạn mình đã về hưu. Đã từng là cộng sự trong nhiều năm, tâm đầu ý hợp, ông vào thăm Thiếu tướng và cũng kết hợp tranh thủ thêm một vài ý kiến của bạn. Sau cái lần gặp gỡ ấy, hình như ông bị nàng Na Ta Sa hớp hồn, nên cứ vài tuần lại về làng Thành An chơi và lần nào cũng thế, những cuộc gặp gỡ với ba cô chủ quán đều diễn ra hết sức thân thiện.

Một buổi sáng chủ nhật, người trong làng hết sức ngạc nhiên khi thấy ông Tiến sỹ Nga Xu kha nốp mái tóc vàng hoe rủ xuống vầng trán cao bóng nhẫy, mắt màu ánh kim, hai tay cầm cán búa đang dùng hết sức bổ những khúc củi đã cưa sẵn ở sân sau của quán ba cô. Người ta đồn, gã Tiến sỹ ấy đã mê tít thò lò nàng Na Ta Sa của làng Thành An và có ý định trồng cây si rồi. Làng Thành An sắp có một chàng rể đặc biệt, một Nhà khoa học người Nga chính hiệu.

Quán ba cô sáng nào cũng đông khách. Na Ta Sa vẫn tíu tít đi lại giữa bao nhiêu bàn ăn và những cái lưng, khủy tay đàn ông chìa ra…

Cứ tưởng khi chàng Xu Kha Nốp cầu hôn, Na Ta Sa sẽ bay sang Nga kết duyên cùng ông tiến sĩ. Vậy mà, cô lại lắc đầu khi gã tiến sĩ ngỏ lời cầu hôn. Người ta bảo rằng không phải Na Ta Sa không yêu anh chàng tiến sỹ kia, gần bốn mươi cái lá vàng, vớ được ông ta, vừa là Nhà khoa học, lại giàu có mà là cô chỉ không muốn nhập Quốc tịch Nga mà thôi. Thế mà, cuối cùng, gã tiến sỹ đã phải nghe theo nguyện vọng của người yêu. Ông nhập Quốc tịch Việt, sang nhận công tác tại Viện khoa học Công An, chuyên ngành phòng cháy và chữa cháy từ hơn tháng nay.Vậy là quán ba cô chỉ còn lại hai…

Sáng chủ nhật, tôi đến chơi nhà lão Kiệm. Mấy tuần rồi mà mắt lão vẫn còn chưa hết đỏ, có lẽ vì suốt ngày bận bịu phơi ớt, đóng bao. Mụ vợ ra đồng sớm, lão nháy tôi ra quán ba cô. Trông thái độ của lão, ý tứ như muốn tiết lộ một vấn đề gì đó quan trọng lắm mà tự lão mới nghiệm ra. Từ ngày cô Tuyết đi lấy chồng, trông hai cô có vẻ già đi chút ít và khách cũng thưa hơn so với thời còn cô Tuyết. Dịch bệnh đã đánh một đòn chí mạng vào ngành kinh doanh ăn uống. Trông thấy chúng tôi, hai cô cười rất tươi.

- Chào hai bác! Lâu lắm lại mới thấy hai bác ghé quán chúng em. Hai bác dùng gì chúng em phục vụ ạ? Lão Kiệm mặt hơi vênh.

- Cho đĩa nòng nợn đi! Miếng nòng mề nào ngon nhất thì thái vào! Lão ta nói đùa, giọng hài hước, giả tiếng người tỉnh ngoài.

- Nòng mề quán em, miếng nào cũng ngon mà! Cô Mai hiểu ý, nhại lại.

Dạ con và dạ dày lợn chấm mắm tôm dằm ớt dé hay ớt chỉ thiên, ăn kèm với bún cùng các rau gia vị là món khoái khẩu của lão Kiệm. Món lòng mề ấy thì ngon nhưng mà hơi đắt. Nhưng hôm nay, đối với lão thấm gì? Trông lão Kiệm vẻ mặt vui vẻ, tự tin lắm. Tôi đoán số dư trong túi lão cũng kha khá, chắc vừa bán ớt chiều qua. Nghe nói ớt năm nay được giá, mà nhà lão, diện tích ớt trồng ngoài đồng những hơn nửa héc ta.

- Mời hai anh ạ! Cô Mại đặt đĩa lòng xuống bàn rất nhẹ. Tôi thoáng nhìn thấy đôi bàn tay của cô ta đợt này vẻ xanh xao, đường gân xanh nổi mờ mờ, nét mặt lộ vẻ ưu tư. Nhưng mà tôi không nhận xét điều này với lão Kiệm. Tính tôi từ xưa đến nay, không bao giờ đánh giá hay nhận xét về người khác khi vắng mặt họ.

- Cám ơn cô!

Tôi với lão Kiệm cụng chén với nhau. Lát sau, lại có mấy người trong làng đến chào chúng tôi, lại nâng chén với nhau chúc buổi sáng tốt lành. Quán ăn trong làng, chỗ nào chả vậy, vừa đi ăn sáng, nhưng cũng là nơi gặp gỡ giao lưu, thắt chặt thêm mối quan hệ tình cảm giữa những người trong làng với nhau…

Ăn xong, lão Kiệm bảo tôi về nhà lão uống cà fe. Mới có 8 giờ rưỡi sáng, mụ vợ lão vẫn còn đang chổng mông ngoài cánh đồng ớt, phải tầm mười một giờ rưỡi trưa mới về. Mặc kệ mụ ấy! Hôm nay chủ nhật, bận mãi rồi, giờ mới được chút nghỉ ngơi, hai thằng bạn già tha hồ tâm sự. Lão ngồi sát lại tôi, rỉ tai.

- Này, hôm nay ông thấy cô Mai có gì khang khác không?

- Không? Tôi giả vờ ngớ ra. Ăn quán thì nhìn mâm chứ nhìn người ta làm quái gì?

- Thì nó bày ra trước mắt ông đó thôi. Cái nhà cô tên Mai, đi xuất khẩu bên Hàn về ấy! Độ này trông lông mày đã sếch ngược, da lại khô, mà mông hơi tóp. Bụng phình ra thì kéo mông tóp lại, đó là sự dịch chuyển theo cơ cấu của tạo hóa. Thì ra cái lão già này, mắt kèm nhèm mà tinh hơn sói rừng - Tôi tự nghĩ và cười thầm trong bụng.

- Thế thì đã sao nào?

- Thì đã sao? Nhưng vấn đề là cô ta chưa chồng mà chửa! Mà chửa với ai ở cái làng này mới được chứ? Cô ta vốn chúa khôn ngoan, láu lỉnh, đâu có như cô Tuyết, thật thà.

Chửa với ai là việc của người ta! Miễn cô ta không chửa với lão là được, bận tâm làm gi? Lão Kiệm cười nhếch mép, khịt khịt lỗ mũi, rồi lấy ngón tay ngoáy, có vẻ tự ái, cho rằng thái độ của tôi không tôn trọng bạn, còn đơn giản và nông cạn lắm, chưa hiểu hết cái ý thâm sâu của lão. Ý tứ của lão là phải quan sát hiện tượng, hệ thống hành vi, nhìn sự vật và đánh giá ở tầm vĩ mô kia!

- Làng người ta đồn, cô ta chửa với thằng cha tên Đài ở Chi cục thuế của huyện ta. Nghe nói quán cô ấy nợ tiền thuế giá trị gia tăng cả năm trời. Mà dịch giã thế này, khách ăn có mấy người mà đòi thu thuế? Cái thằng cha ấy cũng là người tử tế mà lại có tình người ông ạ! Hắn đi khảo sát, thấy quán vắng khách, liền đề xuất cấp trên cho miễn thuế cả năm. Cô ta nể cái tình thấu hiểu ấy mà chiều thôi. Thôi thì chả đóng thuế bằng tiền thì đóng bằng cái ấy…Ha ha ha! Lợi cả đôi đường. Ai dè, cái bụng tự dưng ễnh ra. Đúng nghĩa cụm từ "giá trị gia tăng" nhé! Vài tháng nữa, lại chả gia tăng thêm cho làng một sinh linh nữa à? Lão Kiệm nhe hàm răng có mấy cái sứt, xỉn khói thuốc, cười có vẻ khoái chí vì cách liên tưởng, ví von rất hiện thực của mình...Nghĩ ngợi một lúc, lão lại nghiêng người sang tôi.

- Nhưng mà này!

- Lại còn gì nữa đây?

- Cái thằng cha Đài Chi cục thuế ấy, nghe nói cũng là dân góa vợ, đang cảnh gà trống nuôi con! Cho nên, khả năng tháng sau chúng cưới chạy, chứ cứ để cái bụng lù lù trước mặt bàn dân thiên hạ thế mà được à?

- Thế thì quán chỉ còn có một cô?

- Chả còn cô nào! Lão Kiệm vênh mặt lên như khẳng định. Cái cô Lan ấy, biết bạn mình nay mai đã có chỗ, cũng tự lo. Chả lẽ bán quán đơn độc một mình? Nên cũng tính kế, liều thân, đơn phương tấn công Thiếu tướng Nguyên Quyền. Cứ chiều tối là cô ta chả thiết gì đến quán, tự mò sang nhà lão ta quét dọn, lau nhà, lau cửa, nấu cơm ăn chung, có hôm còn bưng sang cho ông ta cả một con gà rán. Còn tối có ngủ chung hay không, chỉ có trời mới biết. Hình như Tướng Quyền đã dính mỹ nhân kế rồi. Chứ không, sao lại cho cô ta đến sinh hoạt như người nhà, tình cảm lại mặn nồng như thế?

Lão Kiệm dừng lại, nâng ly cà phê lên miệng nhấp, vẻ trầm ngâm.

- Thế là, cuối cùng thì, ba cô, cô nào cũng có nơi có chốn. Theo thiển nghĩ của tôi, có khi lại là một sự may cho ba cô khi về làng, ông ạ! Phiêu bạt chân mây góc bể, phận nữ nhi, gần bốn chục cái mùa thu lá vàng, về quê hương bản quán, cho dù rổ rá cạp lại, nhưng gặp được những người có gốc gác, căn bản, tử tế, sống ở đất quê, gần cha gần mẹ, anh em họ hàng, dòng Tộc, chả hơn khối cô ở lại bên đó, lấy chồng Tây, chồng Tàu, xe hơi nhà lầu nhưng có phải của mình làm ra đâu? Sống phụ thuộc người ta, có bị đè nén hay đối xử bất công cũng phải bấm bụng mà chịu. Mà không chịu, biết kêu ai? Lại đẻ ra một mớ con mang họ nhà người ta, chả mắt xanh mũi lõ thì mắt cũng hoe vàng, mang dòng máu khác, lạ hoắc, về quê, không biết nói tiếng mẹ đẻ. Như thế khác chi mất gốc, vong bản? Sống thì làm con ở, nô lệ tình dục biến tướng. Chết? Thành nắm xương tàn vùi chôn xứ người. Vong hồn rồi liệu có bay qua đại dương ầm ào bão tố mà về với ông bà, cha mẹ, tổ tiên được không? Mà cái truyền thống ngàn xưa của người Việt, ở đâu cũng chả bằng về cái ao làng mình. Ở ngoại quốc, có giàu sang bằng mấy đi nữa, cũng chả bằng về sống giữa quê hương bản quán. Mà ông thấy đây! Ngẫm lại, mới thấy cái nhà cô Tuyết, trông tưởng ngờ nghệch, thế mà không róc đời. Lấy Tây, nhưng có theo về Tây đâu? Vẫn giữ một con đường về hậu cho mình. Sau này có sinh nở, con ở Việt Nam, gần cha mẹ ông bà, nói tiếng Việt. Mà còn nghĩ cái lợi cho Nhà nước mình nữa chứ! Không mất công đào tạo, có thêm một Nhà khoa học tầm cỡ thế giới, cống hiến thành tựu khoa học cho Tổ quốc mình. Gái Việt, cô nào cũng có được suy nghĩ ở tầm vĩ mô như cô Tuyết làng mình, thì đúng là đại phúc cho dân tộc.

Nghe lão nói, tôi giật mình, cứ tưởng đang nói chuyện với một người khác chứ không phải lão già trồng ớt. Thì ra, cái làng Thành An này, tồn tại từ ngàn đời nay, nhà nào cũng xây nhà dựng cửa theo nhiều kiểu dáng, kiến trúc rất hiện đại, bề thế như thế này, cũng có nguyên cớ của nó đấy chứ. Đi đó đi đây, thu vén được tiền bạc, tri thức hiện đại, học được từ người ta là để mang về xây dựng làng mình, quê mình chứ đừng có mang cho người ta. Cái bản tính, hay nói khác là dòng máu dân tộc, phải thấm từ làng quê. Mất gì thì mất, chứ không thể mất gốc.

- Ừ! Ông nghĩ như thế, chí phải! Ở một làng Việt truyền thống, từ đời cố kỵ, ông bà sinh ra và lớn lên, hàng ngàn năm, đã hình thành nên văn hóa bản địa, ăn sâu bén rễ vào từng đường gân thớ thịt của các lớp con cháu, nếu không bồi đắp, để phai nhạt dần rồi mất đi là có tội với tổ tiên! Ông ở quê, sống trên đất làng, uống mạch nước giếng làng, nên cái nhìn cũng bao dung, rộng lượng, thấu cảm cái tình người trong làng. Giống như việc ông trồng ớt, trồng rau trên đồng làng ấy, có phải nơi nào rau cũng có màu xanh rất riêng, ớt cũng đỏ mà lại cay ngọt như trồng trên đất làng ta đâu?...

Chia tay với ông bạn già, đầu óc có phần thủ cựu, nhưng mà những lời lão nói, cứ ám vào tôi. Đành rằng tình yêu là không biên giới, nhưng cái cảnh con gái đưa chồng con về Nước, thăm ông bà, cha mẹ, viếng mồ mả tổ tiên mà thằng con rể với mấy đứa cháu ngoại, không nói được một câu tiếng mẹ đẻ, ngồi với nhau, cùng mâm nhưng bất đồng ngôn ngữ, nhìn nhau như người xa lạ mà buồn. Nhất là lúc chia tay, làm thân con gái, lấy chồng ngoại quốc, khi lên máy bay, bay tít trời Tây xa thẳm thì cũng có khác chi con gà nhép bị quạ tha lên trời như lời các cụ ví von ngày xưa? Rồi thì lúc ốm đau, bệnh tật, muôn thứ tai ương rình rập trong đời một con người, đến lúc ấy, sao gọi được hai tiếng: Mẹ ơi!?


Ý kiến bạn đọc

Xem thêm bình luận